Ngày 01/10/ 1977 nhà bác học người Anh G.N Hounsfield lần đầu tiên đã giới thiệu máy chụp cắt lớp điện toán CT vào chẩn đoán bệnh. Sau nhiều lần được cải tiến và được áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại, đến nay, CT đã trở thành một công cụ chẩn đoán rất mạnh trong y tế. Lợi ích mà nó đem lại rất to lớn. Nhiều người dân đã được hưởng lợi từ loại hình dịch vụ công nghệ cao này. Tuy nhiên, liều bệnh nhân trong chẩn đoán bằng CT cao hơn rất nhiều so với chiếu chụp X-quang thường quy. Gần đây, đã có nhiều công bố liên quan tới liều bệnh nhân trong nhóm bệnh nhân phải trải qua nhiều lần tái chụp bằng CT trong cuộc đời. Điều này dấy lên mối quan tâm của các nhà chuyên môn trong đó có các nhà nghiên cứu, bảo vệ bức xạ, bác sĩ, vật lý y khoa, các nhà công nghệ và các nhà quản lý. Ngày 04/6/2019 tại trụ sở của Cơ quan năng lượng Quốc tế IAEA đã diễn ra một hội nghị kỹ thuật với sự tham gia của 53 chuyên gia quốc tế với sự hỗ trợ tham gia của các bệnh nhân đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, những người đã trải qua các thủ tục chẩn đoán nêu trên. Từ diễn đàn này, những người tham gia cuộc tọa đàm đã trao đổi, đánh giá tình hình và đã đưa ra lời kêu gọi hành động chung. Xin giới thiệu với độc giả báo cáo tóm tắt nội dụng hội nghị kỹ thuật và Lời kêu gọi chung của Hội nghị.
https://www.iaea.org/sites/default/files/19/04/rpop-tm_summary_final.pdf
Qua đây, người viết mong muốn cộng đồng các nhà khoa học, các nhà quản lý, các y bác sĩ và giới chuyên môn của Việt Nam cùng nhau suy nghĩ và có những hành động hợp lý về vấn đề được nêu trong Lời kêu gọi này.
Từ 04-06/3/2019 tại Trụ sở của IAEA, một hội nghị kỹ thuật đã được tổ chức với sự tham gia của 53 chuyên gia đến từ 26 quốc gia thành viên và các tổ chức quốc tế và các cơ quan chuyên môn: ICRP, WHO, UNSCEAR, ISR, ISRRT, IOMP, ESR, Image Gently và DITTA cùng đại diện cho một số chuyên môn khác nhau như: các nhà nghiên cứu y học, các nhà vật lý y khoa, các kỹ thuật viên bức xạ y tế, các nhà sinh học bức xạ, dịch tễ học bức xạ, các nhà sản xuất, chuyên gia bảo vệ bức xạ và sự giúp đỡ của bệnh nhân từ mạng lưới An toàn bệnh nhân của WHO.
Báo cáo sau đây tóm tắt những phát hiện, những kết luận và khuyến nghị được các bên tham gia đồng ý đưa ra tại hội nghị.
Hình ảnh y tế và đặc biệt là hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CT) đã và đang mang lại nhiều lợi ích to lớn trong chẩn đoán, theo dõi bệnh và trong quản lý tình trạng J886.love thuộc tập đoàn ABCVIP thông qua việc chẩn đoán bằng hình ảnh và các thủ tục can thiệp bằng tia X. Hàng triệu bệnh nhân được hưởng lợi từ việc kiểm tra bằng tia X mỗi ngày. IAEA đã khởi xướng dự án Thẻ thông minh vào năm 2009 với mục đích cung cấp một phương pháp theo dõi phơi nhiễm bức xạ cho bệnh nhân. Hiện nay, việc theo dõi phơi nhiễm bức xạ của bệnh nhân đã trở thành thói quen ở nhiều quốc gia và các hệ thống đã có sẵn trên thị trường nhằm phương tiện cung cấp hồ sơ phơi nhiễm bức xạ cho bệnh nhân.
Lợi ích của việc theo dõi phơi nhiễm bức xạ của bệnh nhân đã được ghi nhận trong các công bố từ vài năm trước nhằm tăng cường quá trình luận chứng và tối ưu hóa việc bảo vệ bức xạ. Việc theo dõi để đánh giá liều bức xạ tích lũy của từng bệnh nhân đã tăng lên trong những năm gần đây. Mặc dù vẫn còn những hạn chế trong việc sử dụng đại lượng liều hiệu dụng, nhưng hiện tại, không có biện pháp nào tốt hơn việc sử dụng số liệu này để đánh giá tổng rủi ro. Hầu hết các hệ thống tự động J881 ưu đãi hấp dẫn liều cung cấp ước tính liều hiệu dụng cho bệnh nhân, trong đó cũng có một số hệ cung cấp được ước tính về liều nội tạng.
Các ấn phẩm khoa học đã chỉ ra rằng bệnh nhân trải qua các thủ tục X quang chẩn đoán và can thiệp có thể nhận được liều hiệu dụng tích lũy (CED) nằm trong khoảng 50-500 mSv nhưng không biết liệu đây có phải là hiện tượng phổ biến hay được chỉ hạn chế trong vài tình huống cô lập. Sau những đánh giá được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts (MGH) ở Boston, trong đó hàng ngàn bệnh nhân được phát hiện nhận liều CED ≥ 100 mSv, một nỗ lực chung đã được IAEA và MGH đưa ra để đánh giá tình hình ở các nơi khác trên thế giới. Trong quá trình chuẩn bị hội nghị, những người tham gia được đề cử đã được yêu cầu mang dữ liệu từ bệnh viện và quốc gia của họ.
Hội nghị đã thảo luận các kết quả đã có cho đến nay và cân nhắc đến việc giải thích và các hành động được đề xuất.
Các quan sát cho thấy số lượng bệnh nhân nhận CED ≥ 100 mSv lớn hơn nhiều so với ước tính trước đây. Các nghiên cứu được trình bày trong hội nghị với dữ liệu của hơn 2,5 triệu bệnh nhân đã trải qua nhiều lần chụp hình x-quang (chủ yếu là CT) trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm tại các bệnh viện khác nhau. Các số liệu cho thấy hơn 1% số bệnh nhân có CED lớn hơn 100 mSv. Dữ liệu này được thu thập từ các bệnh viện ở Bulgaria, Croatia, Cộng hòa Séc, Ai Cập, Phần Lan, Hy Lạp, Ý, Litva, Qatar, Slovakia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Thái Lan, UAE và Mỹ. Những bệnh nhân nhận được liều bức xạ tích lũy cao như vậy thường phải làm xét nghiệm X quang nhiều lần theo chỉ định lâm sàng, để theo dõi bệnh ác tính hoặc các tình trạng bệnh mãn tính. Việc luận chứng cho các xét nghiệm này chưa được kiểm tra trong hội nghị và điều này sẽ đòi hỏi phải tiến hành nhiều nghiên cứu tiếp theo. Mặc dù dữ liệu được trình bày trong hội nghị đang chờ được công bố, nhưng hầu hết các ước tính thận trọng cho thấy ít nhất 0,5% số bệnh nhân trải qua kiểm tra CT có khả năng nhận được liều phóng xạ trên 100 mSv trong một năm. Khoảng 10 đến 20% những bệnh nhân này có độ tuổi dưới 50 tuổi.
Người ta đã khẳng định rằng có độ tin cậy cao giữa các nhà dịch tễ học phóng xạ và các tổ chức có liên quan, liên quan đến các bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ giữa các hiệu ứng bức xạ tương ứng với mức liều hiệu dụng từ 100 mSv trở lên, mặc dù có một số người cho rằng bằng chứng này có sức thuyết phục thậm chí bắt đầu từ mức liều 50 mSv. Ngay cả khi xem xét đến các yếu tố bất định lớn liên quan đến ước tính liều hiệu dụng, ở mức 100 mSv liều hiệu dụng hoặc cao hơn, nhiều cơ quan nội tạng nhận được liều cao trong đó, nguy cơ phóng xạ đã được chứng minh là có gia tăng.
Cần lưu ý rằng nhiều phát hiện được trình bày trong hội nghị này có thể chưa thể áp dụng cho những quốc gia thu nhập rất thấp và dưới trung bình, ở những nơi chưa có dữ liệu, việc tiếp cận với CT và các công nghệ mới hơn là không khả dụng như ở các nền kinh tế có thu nhập vào mức trên trung bình hoặc cao.
Mặc dù việc tái chiếu chụp nhiều lần X quang có thể là cần thiết trong khám và chữa bệnh, nhưng điều này sẽ tạo ra sức ép về trách nhiệm của các cơ quan chức năng, nhà sản xuất và chuyên gia y tế trong việc phát triển và thực hiện các chiến lược và phải có các giải pháp phù hợp tập trung vào việc bảo vệ bức xạ cho nhóm bệnh nhân cụ thể này.
NHỮNG KẾT LUẬN CHÍNH VÀ LỜI KÊU GỌI HÀNH ĐỘNG
- Đây là một phát hiện tương đối mới, cần phải tiến hành thêm nhiều nghiên cứu để hiểu đầy đủ hơn mức độ phơi nhiễm do tái lặp nhiều lần chụp x-quang, các đại lượng liều có liên quan, cũng như xem xét liệu có thể tránh được bất kỳ sự phơi nhiễm nào trong số những phơi nhiễm này hay không.
- Các hành động cần thiết cần được thực hiện là làm cho các bác sĩ giới thiệu nhận thức được tình hình. Họ nên được nhắc nhở về vai trò và trách nhiệm mà họ cần chia sẻ với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc J886.love thuộc tập đoàn ABCVIP khác có liên quan để bảo vệ bức xạ cho bệnh nhân. Điều này cũng đòi hỏi tăng cường và hài hòa hơn nữa trong việc J882ea hoàn trả cao và đào tạo của các bác sĩ điện quang, kỹ thuật viên bức xạ y tế và vật lý y khoa.
- Cần phát triển mô hình dự đoán bệnh nhân mắc phải tình trạng bệnh lý lâm sàng khác nhau có khả năng phải nhận liều tích lũy nằm trong phạm vi cao.
- Các hiệp hội nghề nghiệp y tế cần phát triển, áp dụng hoặc cải thiện các tiêu chí/hướng dẫn thích hợp cho các bệnh nhân cần phải làm nhiều các xét nghiệm x-quang/hoặc phải tiến hành nghiên cứu trong thời gian dài. Điều này đòi hỏi một sự đồng thuận đa ngành cần đạt được giữa các bác sĩ y X quang và bác sĩ giới thiệu của các nhà chuyên môn khác nhau.
- Khi một loạt các thủ tục có thể thấy trước một cách hợp lý các rủi ro và lợi ích trong toàn bộ các thủ tục đó cần được xem xét trong quá trình luận chứng. Trong những trường hợp này, việc xem xét các kỹ thuật phi ion hóa thay thế khác là đặc biệt quan trọng.
- Cần khuyến khích, bất cứ khi nào thích hợp, sử dụng các phương thức hình ảnh phi ion hóa (ví dụ: siêu âm hoặc MRI) nói chung và cho các thủ tục can thiệp có hướng dẫn bằng hình ảnh nói riêng.
- Cần xem xét đặc biệt đối với việc tối ưu hóa bảo vệ bức xạ cho bệnh nhân trải qua nhiều lần xét nghiệm hình ảnh x-quang bằng cách sử dụng khái niệm mức tham chiếu chẩn đoán gắn với nhiệm vụ hình ảnh lâm sàng xác định.
- Nền công nghiệp có thể đóng một vai trò quan trọng bằng việc chế tạo máy quét CT có khả năng đạt được chất lượng hình ảnh đầy đủ ở mức liều mSv (hoặc phần nhỏ của mSv). Đây dường như là một mục tiêu có thể đạt được thông qua phát triển phần cứng và phần mềm.
- Cần xem xét đưa khái niệm liều bức xạ tích lũy đối với bệnh nhân vào trong khuôn khổ pháp lý và các tiêu chuẩn bảo vệ bức xạ.
- Cần phải Đăng ký nhận khuyến mãi cơ sở dữ liệu duy trì các khía cạnh hữu ích của liều hiệu dụng nhưng giải quyết những hạn chế của đại lượng này để sử dụng cho từng bệnh nhân. Bên cạnh các khía cạnh khác, đại lượng này nên liên quan đến thể trạng cơ thể, tuổi tác và giới tính.
- Cần tiêu chuẩn hóa và xác nhận các phương pháp ước tính liều bệnh nhân trong các hệ thống theo dõi liều tự động. Các hệ số chuyển đổi để ước tính liều nội tạng nên được tiêu chuẩn hóa.
- Các giá trị cảnh báo phơi nhiễm bức xạ tích lũy của bệnh nhân nên được thiết lập và giới thiệu trong các hệ thống theo dõi liều. Thang màu có thể được thông qua cho các giá trị cảnh báo.
- Cần có các cơ quan y tế để thực hiện các chính sách áp dụng các giải pháp công nghệ để theo dõi phơi nhiễm bệnh nhân và tích hợp chúng vào hồ sơ J886.love thuộc tập đoàn ABCVIP điện tử.
- IAEA nên xem xét việc xây dựng một tuyên bố về chủ đề quan trọng này với sự hợp tác của các cơ quan liên quan khác.
Đặng Thanh Lương, Chuyên gia của Viện NLNTVN





