Sản xuất đồng vị phóng xạ và dược chất phóng xạ trên lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt – Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam

1037

Lò phản ứng hạt nhân (LPƯHN) Đà Lạt ngày nay với công suất danh định 500 kW là lò phản ứng hạt nhân duy nhất tại Việt Nam. Sau 38 năm hoạt động (tính đến cuối năm 2021), lò phản ứng đã hoạt động với tổng cộng khoảng 57.600 giờ, có nghĩa là trung bình mỗi năm hoạt động được khoảng 1.500 giờ (từ năm 2016 đến nay trung bình đạt khoảng 2.800 giờ/năm) an toàn và khai thác hiệu quả. Hơn 90% thời gian hoạt động lò phản ứng với khoảng 80% công suất chiếu xạ đã được khai thác cho nghiên cứu, sản xuất đồng vị phóng xạ (ĐVPX) và dược chất phóng xạ (DCPX – còn gọi là thuốc phóng xạ). Trong quá trình hoạt động, lò phản ứng đã được sử dụng thành công trong sản xuất nhiều loại ĐVPX và thuốc phóng xạ để sử dụng trong y học và các lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật khác; ước tính đã cung cấp khoảng 11.200 Ci thuốc phóng xạ sử dụng trong y học (trung bình gần 300 Ci/năm và từ 2016 đến nay đạt khoảng 820 Ci/năm) trong đó phần lớn là I-131, P-32, máy phát Tc-99m, Sm-153, Lu-177… góp phần J882ea tỉ lể kèo thắng lớn sự phát triển kinh tế – Trang Chủ J88.com Trực Tuyến Mới Nhất 2026 nói chung và của Y học hạt nhân (YHHN) nói riêng tại Việt Nam.

 

1. MỞ ĐẦU

 

Trên thế giới từ nhiều thập niên qua, việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và ĐVPX đã trở thành một công cụ đắc lực trong các lĩnh vực phát triển kinh tế – Trang Chủ J88.com Trực Tuyến Mới Nhất 2026 như: Công nghiệp, J88.com Đăng nhập, Đăng ký trang chủ nhà cái J88, Đăng ký nhận khuyến mãi , J88vip00 Giải Trí Thể Thao và nghiên cứu khoa học; đặc biệt, trong y tế được ứng dụng cho chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu y học đã có nhiều kinh nghiệm và mang lại kết quả thiết thực.

 

Đồng vị phóng xạ dùng trong y tế đóng một vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán ung thư và các bệnh khác; đặc biệt, ngày càng được sử dụng nhiều trong các phương pháp điều trị ung thư. Hơn 10.000 bệnh viện trên toàn thế giới sử dụng ĐVPX với khoảng 100 loại khác nhau, tổng cộng gần 49 triệu liệu trình mỗi năm. Tại châu Âu, với mạng lưới cung cấp độc đáo, sự phát triển công nghệ tiên tiến và cam kết nghiên cứu lâm sàng mạnh mẽ, đóng vai trò là trung tâm trong lĩnh vực y học hạt nhân của thế giới. Châu Âu cũng là nhà cung cấp ĐVPX trong y tế hàng đầu cho thị trường thế giới, với thị phần hơn 60% ĐVPX cho hơn 1500 trung tâm y học hạt nhân và cung cấp khoảng 10 triệu liệu trình cho bệnh nhân mỗi năm.

 

Hiện tại, nguồn sản xuất chính của ĐVPX là sử dụng các lò phản ứng nghiên cứu hoặc máy gia tốc tuyến tính đang được sử dụng và phát triển cao. Trong đó, lò phản ứng hạt nhân vẫn luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc điều chế một số ĐVPX sống dài quan trọng không thể thiếu được cho các ứng dụng trong y tế, công – J88.com Đăng nhập, Đăng ký trang chủ nhà cái J88 như Tc-99m, Mo-99, I-131, Ir-192, Co-60…; đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ các phương pháp điều trị bệnh nhắm đích dùng các đồng vị phát bêta như Lu-177, Sm-153, P-32, Y-90… bằng cả hai cách thức, xạ trị ngoài (dùng nguồn phóng xạ kín) và xạ trị nội (dùng nguồn phóng xạ hở), LPƯHN là phương tiện duy nhất và được khai thác hiệu quả cho mục đích điều chế các loại ĐVPX này.

 

Tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu hạt nhân (NCHN) là đơn vị duy nhất ứng dụng LPƯHN để sản xuất và cung cấp các thuốc phóng xạ (I-131 dung dịch và viên nang, P-32 dung dịch và tấm áp, máy phát Tc-99m và 10 loại KIT invivo) cho 25 khoa Y học hạt nhân trên toàn quốc trong chẩn đoán và điều trị ung thư hiện nay.

 

Năm 2020 – 2021, trong bối cảnh khó khăn của tình hình dịch bệnh Covid-19 tác động tiêu cực tới các ngành nghề khác của Việt Nam cũng như của thế giới; mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc nhập khẩu các sản phẩm thuốc và nguyên liệu làm thuốc từ nước ngoài nhưng Viện NCHN đã nỗ lực cố gắng để đảm bảo đủ thuốc phóng xạ cho các cơ sở y học hạt nhân khám và điều trị bệnh trong lúc đại dịch. Những kỳ tích đạt được (khôi phục và mở rộng công suất lò phản ứng, làm chủ trong vận hành và đảm bảo an toàn tuyệt đối trong suốt 38 năm qua, sản xuất thuốc phóng xạ với giá thành thấp nhất…) tại LPƯHN Đà Lạt đã cho thấy Việt Nam đã hoàn toàn có thể làm chủ được các vấn đề của khoa học – công nghệ hạt nhân trong sản xuất các loại thuốc phóng xạ thay thế nhập khẩu, đáp ứng cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Hiện nay, dây chuyền sản xuất thuốc phóng xạ tại LPƯHN Đà Lạt đã được Bộ Y tế cấp chứng nhận GMP-WHO kèm theo visa lưu hành.

 

Với dự đoán nhu cầu thuốc phóng xạ cao trong thời gian tới, Viện NCHN đang tiếp tục bổ sung nhiên liệu U-235 độ giàu thấp (19,75%) để tăng cường chạy lò phục vụ sản xuất ĐVPX và các thuốc phóng xạ trong khoảng 10 năm tới nhằm cung ứng khoảng 70% nhu cầu cho các bệnh viện trong và ngoài nước. Ngoài ra, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (cơ quan quản lý Viện NCHN) đang J882ea tỉ lể kèo thắng lớn triển khai các công đoạn tiếp theo của dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân (CNST) với lò phản ứng hạt nhân có công suất lớn 10 MWt đã được 8J88 phiên bản phê duyệt chủ trương đầu tư, trong đó ứng dụng Lò để sản xuất ĐVPX ứng dụng trong Y tế sẽ là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Dự án CNST là tương lai của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam trong 50-70 năm tiếp theo; và do đó năm 2022 sẽ là năm đẩy mạnh nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực, cán bộ đầu đàn phục vụ triển khai Đăng ký nhận khuyến mãi và khai thác lò nghiên cứu mới.

 

2. HIỆN TRẠNG VỀ NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ TRÊN LÒ PHẢN ỨNG HẠT NHÂN ĐÀ LẠT

 

Hiện nay, tại Viện NCHN, các ĐVPX được sản xuất bằng cách chiếu xạ nơtron nhiệt đồng vị bền trên lò phản ứng hạt nhân, sau đó xử lý hóa phóng xạ để thu đ­ược sản phẩm bảo đảm chất l­ượng đáp ứng chuẩn GMP-WHO trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

 

2.1. Hiện trạng về cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật

 

Cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu, sản xuất các ĐVPX và hợp chất đánh dấu bao gồm các hệ thống thiết bị và công nghệ tách rời nhau nhưng được vận hành và hoạt động đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với nhau.

 

– Lò phản ứng là thiết bị quan trọng nhất với các kênh chiếu xạ có thông lượng nơtron nhiệt từ 5×1011n.cm-2.sec-1 đến 2,3×1013 n.cm-2.sec-1, thích ứng cho việc điều chế các đồng vị trên cơ sở của phản ứng (n,), có thời gian sống ngắn và trung bình, được ứng dụng phổ biến trong YHHN.

Tổng diện tích các phòng thí nghiệm dành cho nghiên cứu và điều chế các chất phóng xạ là 300 m2, đ­ược bố trí ngay trong vùng J881 ưu đãi hấp dẫn của lò phản ứng. Trong đó 200 m2 dành cho việc lắp đặt các dây chuyền công nghệ sản xuất các đồng vị và thuốc phóng xạ, 100 m2 là các phòng thí nghiệm nghiên cứu phát triển và kiểm tra chất l­ượng sản phẩm.

 

Đư­ợc sự tài trợ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam, đơn vị đã được trang bị 3 dây chuyền công nghệ cơ bản và một số box đánh dấu cùng các thiết bị chuyên dụng khác, cụ thể là:

 

– Dây chuyền sản xuất đồng vị I-131:

 

Năm 1986, dưới sự tài trợ của IAEA, Viện NCHN tiếp nhận một dây chuyền sản xuất I-131, tại thời điểm này đây là một dây chuyền hiện đại, bảo đảm các điều kiện hoạt động của công việc sản xuất và kiểm tra chất lượng loại hình sản phẩm này.

 

Năm 2008, Viện NCHN được trang bị dây chuyền sản xuất I-131 mới phù hợp với nhu cầu phát triển trong điều kiện hiện tại. Dây chuyền được nhập khẩu từ Đức do Tập đoàn ITD (Isotope Technologies Dresden GmbH) sản xuất theo tiêu chuẩn German Standard DIN ISO 9001:2000.

 

– Dây chuyền sản xuất máy phát Tc-99m và dây chuyền sản xuất P-32 dạng tấm áp và dung dịch: Mỗi dây chuyền này gồm 2 buồng sản xuất có che chắn phóng xạ bằng chì và đ­ược lắp ráp các cánh tay đẩy cùng với các thiết bị công nghệ cơ bản đ­ược đ­ưa vào sử dụng từ năm 1999.

 

Năm 2020, Viện NCHN được Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận GMP-WHO cho các sản phẩm DCPX phục vụ trong y tế.

 

2.2. Năng lực đội ngũ cán bộ

 

Liên quan đến công việc sản xuất các DCPX, các đơn vị chuyên môn sau đây của Viện NCHN Đà Lạt cùng phối hợp tham gia:

  • Trung tâm Lò phản ứng gồm 40 cán bộ, trong đó 25 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học trực tiếp vận hành lò, xử lý thải phóng xạ….
  • Trung tâm An toàn bức xạ gồm 16 cán bộ, trong đó 10 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học phụ trách công tác đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành lò và sản xuất đồng vị phóng xạ.
  • Trung tâm Nghiên cứu và Điều chế đồng vị phóng xạ gồm 16 cán bộ, trong đó có 15 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học trực tiếp sản xuất thuốc phóng xạ và kiểm tra chất lượng sản phẩm.

Đội ngũ cán bộ này đã được đào tạo chuyên môn ở trong và ngoài nước, làm việc nhiều năm trong lĩnh vực này, có kinh nghiệm và trình độ công nghệ đáp ứng các nhiệm vụ cần thiết.

 

2.3. Các sản phẩm ĐVPX và DCPX đã sản xuất

 

Hình 7.  Các sản phẩm thuốc phóng xạ đã được sản xuất tại Viện NCHN

 

Với các đặc điểm và điều kiện như hiện nay, để phục vụ cho việc điều chế các chất phóng xạ, hàng tháng LPƯHN Đà Lạt hoạt động từ 85-150 giờ liên tục, một tuần một lần với công suất danh định là 500 kW.

 

Lượng đồng vị hiện nay có thể sản xuất được sau mỗi đợt lò hoạt động có thể đến 50Ci tùy thuộc nhu cầu tại thời điểm cung cấp, trong đó phần lớn là I-131 và P-32 chiếm tỷ lệ 50%, phần còn lại 50% bao gồm các đồng vị như Mo-99, Lu-177, Sm-153, Co-60, Ir-192…

 

Ngoài ra, các hợp chất đánh dấu với Tc-99m là các KIT invivo bao gồm hơn 4 chủng loại cũng được sản xuất dưới dạng bột đông khô, sẵn sàng đáp ứng theo yêu cầu các khoa YHHN.

 

Bảng 1. Dược chất phóng xạ được sản xuất tại Viện NCHN

Loại nguồn Dược chất phóng xạ Ứng dụng
Nguồn hở Bình chiết tách 99Mo/99mTc Đánh dấu với các hợp chất đánh dấu, ghi hình chẩn đoán
131I  viên nang cứng và dung dịch Chẩn đoán và điều trị các bệnh tuyến giáp
 32P  tấm áp và dung dịch Điều trị giảm đau do di căn, các bệnh ngoài da
Nguồn kín 60Co Điều trị chiếu ngoài, áp sát và ứng dụng trong công nghiệp
Các KIT invivo MDP, DTPA, Phytec, DMSA Ghi hình chức năng các cơ quan nội tạng

 

2.4. Tình hình đảm bảo chất lượng sản phẩm

 

Trong 38 năm qua, song song với việc vận hành tốt công nghệ sản xuất, công tác bảo đảm và kiểm tra chất lượng sản phẩm luôn luôn được coi trọng, các thiết bị dùng cho kiểm tra chất lượng sản phẩm đã được nâng cấp và hoàn thiện theo mô hình kiểm tra độc lập có đối chứng, so sánh mẫu song song. Bộ phận kiểm tra chất lượng là cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, ISO/IEC 17025:2017, mã số VILAS 519 do Văn phòng công nhận chất lượng cấp.

 

Việc theo dõi chất lượng sản phẩm ngay tại các cơ sở sử dụng cũng được thực hiện thường xuyên và đã ghi nhận rằng trong suốt 38 năm qua chưa phát hiện thấy trường hợp sản phẩm kém chất lượng nào.

 

2.5. Tình hình phân phối sản phẩm

 

Tình hình cung cấp và phân phối các thuốc phóng xạ phụ thuộc vào loại sản phẩm, số lượng và mục đích sử dụng. Hiện tại, Viện NCHN cung cấp ổn định cho 25 Bệnh viện trong cả nước các thuốc phóng xạ sản suất trên LPƯHN Đà Lạt như  I-131, Tc-99m, P-32,… được cung cấp cho các bệnh viện hàng tuần do nhu cầu các bệnh viện ngày càng tăng. Các sản phẩm Kit invivo cung cấp theo thời gian bất kỳ khi nào có bệnh viện cần.

 

Từ trước đến nay việc chuyên chở chất phóng xạ đến các Khoa YHHN được thực hiện bằng phương tiện ô tô chuyên dụng và do Viện NCHN đảm nhận. Vì phải chuyên chở bằng ô tô nên thời gian vận chuyển bị kéo dài làm giảm khả năng sử dụng các chất đồng vị sống ngắn và làm lãng phí hoạt độ phóng xạ.

 

3. NHU CẦU PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ TRONG Y TẾ Ở NƯỚC TA

 

3.1. Tình hình chung

 

Trong suốt 38 năm qua kể từ ngày đưa LPƯHN Đà Lạt vào hoạt động, lĩnh vực YHHN của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Thông qua các dự án viện trợ kỹ thuật, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đã cung cấp một số thiết bị YHHN cơ bản và hiện đại đồng thời hỗ trợ đào tạo đội ngũ bác sỹ, kỹ thuật viên cho các bệnh viện. Bằng khả năng của mình, Viện NCHN đã tích cực thực hiện chương trình tư vấn, mở rộng mạng lưới YHHN bằng cách hỗ trợ cho các bệnh viện để thiết lập các khoa YHHN, đó là: Tham gia tư vấn Đăng ký nhận khuyến mãi dự án, thiết kế phòng điều trị, cung cấp các thiết bị, ĐVPX và hỗ trợ trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật phóng xạ cho các bệnh viện.

 

Hình 8. Tổng sản lượng hoạt độ phóng xạ và doanh thu của dược chất được sản xuất từ Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt giai đoạn 2016-2021

 

Hình 9. Sự phân bố các khoa YHHN trên toàn quốc

 

Để đáp ứng thị trường ngày càng mở rộng, mỗi tuần lò phản ứng đã phải tăng thời gian hoạt động từ 85 giờ lên 130-150 giờ. Sự phát triển thêm nhiều cơ sở ứng dụng ĐVPX trong y tế dẫn đến nhu cầu thị trường tăng nhanh cả về số lượng và chủng loại ĐVPX. Ngoài ứng dụng cho chẩn đoán và điều trị, thì ứng dụng ĐVPX trong nghiên cứu y học cũng đang phát triển đáng kể tại các Viện Nghiên cứu và các bệnh viện với nhu cầu rất đa dạng về chủng loại ĐVPX nên Viện NCHN không đáp ứng đủ mà hầu hết phải nhập ngoại.

 

3.2. Nhu cầu sử dụng ĐVPX ở Việt Nam trong thời gian tới

 

Nhu cầu sử dụng ĐVPX hiện tại và sắp tới sẽ tăng cả về số lượng và chủng loại ĐVPX, hợp chất đánh dấu và DCPX bởi số lượng bệnh nhân cần được chẩn đoán và điều trị ở Việt Nam sẽ ngày càng tăng. Hiện trên 80% các chỉ định dùng thuốc phóng xạ để chẩn đoán và điều trị là cho các bệnh nhân ung thư. Theo quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong y tế đến 2025, 80% tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có cơ sở YHHN và cơ sở ung bướu có thiết bị xạ trị.

 

Theo kế hoạch, trong 5 năm tới sẽ có khoảng 40 bệnh viện có khoa YHHN được Đăng ký nhận khuyến mãi và đưa vào hoạt động. Các thiết bị chẩn đoán bệnh sẽ được hiện đại hóa và đưa vào hoạt động với khoảng 30 thiết bị gamma camera và SPECT trong vòng 3 năm tới.

 

Số lượng bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị bằng ĐVPX sẽ tăng 200% sau năm 2020. Số lượng ĐVPX ứng dụng trong y tế hiện nay ước tính 2000 Ci/năm trong đó khoảng 50% là nhập khẩu.

 

Theo dự đoán của các chuyên gia YHHN của ta hiện nay thì sau 10 năm nữa nhu cầu về ĐVPX trong y tế có thể sẽ tăng gấp 10 lần.

 

4. NHỮNG THÁCH THỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ CUNG ỨNG ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN

 

Một trong những ứng dụng quan trọng của lò phản ứng nghiên cứu là sản xuất các ĐVPX phục vụ các lĩnh vực phát triển kinh tế Trang Chủ J88.com Trực Tuyến Mới Nhất 2026. Tại LPƯHN Đà Lạt có thể nói dù có công suất nhỏ, chỉ 500 kW nhưng đã hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này trong suốt 38 năm vận hành, góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của ngành năng lượng nguyên tử. Tuy nhiên, trước sự phát triển Trang Chủ J88.com Trực Tuyến Mới Nhất 2026 và nhu cầu sử dụng ĐVPX ngày càng gia tăng, việc sản xuất các ĐVPX đáp ứng thị trường đang phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức, cụ thể:

4.1. Về thiết bị công nghệ

  • LPƯHN Đà Lạt có công suất nhỏ cũng như đặc thù công nghệ nên thời gian cũng như tần suất hoạt động hạn chế.
  • Thiết bị công nghệ phục vụ cho sản xuất đã quá cũ, chưa tự động hóa để nâng cao hiệu quả sản xuất.

4.2. Về nhân sự, đào tạo

Cán bộ chuyên môn cao trong sản xuất còn thiếu nhiều lĩnh vực như hóa dược phóng xạ, hóa phóng xạ, điện tử hạt nhân, vật lý y học (do hệ thống J882ea hoàn trả cao Đại học và Trung học chuyên nghiệp chưa có chương trình đào tạo các lĩnh vực này).

 

4.3. Về chính sách, kế hoạch đầu tư

  • Nguồn vốn đầu tư nâng cấp cơ sở sản xuất còn hạn chế.
  • Chưa có cơ chế quản lý sản xuất và cung cấp, quản lý chất lượng về các sản phẩm DCPX ở tầm quốc gia dẫn đến hiện tượng cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại.

4.4. Về cơ chế Trang Chủ J88.com Trực Tuyến Mới Nhất 2026

  • Cơ chế hành chính trong điều hành phối hợp giữa nhà sản xuất và cơ sở ứng dụng còn nhiều bất cập như thủ tục, kế hoạch hợp đồng, đặt hàng, thanh quyết toán không kịp thời, ảnh hưởng nhiều đến tái sản xuất.
  • Chưa có sự tổ chức thống nhất giữa mạng lưới các nhà cung cấp các sản phẩm DCPX ngoại nhập.
  • Chưa có cơ chế vận chuyển các DCPX bằng đường hàng không trong nước, gây lãng phí trong quá trình sản xuất đối với các sản phẩm ĐVPX có thời gian bán rã ngắn.

5. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ KHẢ NĂNG CUNG CẤP CÁC CHẾ PHẨM PHÓNG XẠ SỬ DỤNG TRONG Y TẾ VÀ CÔNG NGHIỆP

 

5.1. Khả năng sản xuất và cung cấp chất phóng xạ trong nước

 

Với tiềm năng và ưu thế của LPƯHN Đà Lạt và đội ngũ cán bộ hiện nay cũng như trong tương lai, Viện NCHN hoàn toàn giữ được vai trò quan trọng trong việc phát triển nền YHHN của nước nhà thông qua các đóng góp trong nghiên cứu phát triển, sản xuất và cung cấp ổn định các chế phẩm phóng xạ, hỗ trợ kiểm tra chất lượng, sử dụng an toàn và có hiệu quả cho các Khoa YHHN trong cả nước.

 

Khả năng sản xuất các chất phóng xạ của Viện NCHN không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của LPƯHN Đà Lạt mà còn phụ thuộc vào hoạt động và chất lượng của các hệ thiết bị công nghệ xử lý hóa dược phóng xạ.

 

Để khai thác triệt để khả năng của thiết bị xử lý và đáp ứng nhu cầu cao hơn về số lượng và chủng loại các chế phẩm phóng xạ, một định hướng cần thực hiện là nhập khẩu các bia đồng vị đã được chiếu xạ kích hoạt trên các lò phản ứng hạt nhân ở nước ngoài như là vật liệu sơ chế để sản xuất các chất ĐVPX trên các thiết bị đã có tại Viện NCHN. Ngoài ra, Viện NCHN có đủ điều kiện về thiết bị và con người để nhập khẩu sản phẩm theo nguyên lô và thực hiện phân liều đóng gói, phân chia sản phẩm đến các Khoa YHHN trong toàn quốc. Hai hình thức nhập khẩu nêu trên đều cần có sự đóng góp về trí lực và kỹ thuật của ngành và cũng là hình thức làm giảm giá thành của sản phẩm so với việc nhập khẩu riêng lẻ theo nhu cầu riêng của từng bệnh viện.

 

5.2. Định hướng nghiên cứu phát triển

 

Trong những năm gần đây, lĩnh vực YHHN trên thế giới có nhiều đột phá trong sự phát triển về cả chiều sâu và chiều rộng. Sự ra đời của các thiết bị YHHN hiện đại như  SPECT, PET… cũng như những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực cộng nghệ Sinh – Y đã tạo cơ sở và động lực J882ea tỉ lể kèo thắng lớn sự phát triển của lĩnh vực điều chế các DCPX.

 

Việc định hướng cho việc nghiên cứu phát triển các chế phẩm phóng xạ để phục vụ cho YHHN nước ta phải dựa trên nền tảng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Vì thế, các hướng nghiên cứu cần được tập trung trong thời gian tới có thể đề xuất là:

 

– Nghiên cứu điều chế hạt phóng xạ (có kích thước nanomet, micromet…) ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị ung thư.

 

– Nghiên cứu đánh dấu ĐVPX với các hợp chất có khả năng hướng đích cao (phân tử nhỏ, kháng thể đơn dòng, peptid…) ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị ung thư.

  • Quan tâm các hướng nghiên cứu DCPX đánh dấu với các loại đồng vị phát positron để dùng trên các thiết bị PET.
  • Quy hoạch sản xuất Tc-99m theo hướng cung cấp các sản phẩm cuối đã được đánh dấu với các KIT, trong đó việc hình thành mô hình cụm sản xuất Tc-99m trực tiếp từ nguồn Mo-99 nhập khẩu.

6. KẾT LUẬN

 

Với những thành quả có ý nghĩa quan trọng của ngành hạt nhân là việc đưa LPƯHN Đà Lạt có công suất thấp vào hoạt động an toàn, hiệu quả cùng với sự hình thành sớm và phát triển nhanh của lĩnh vực điều chế các chất phóng xạ tại Viện NCHN, ngành YHHN nói riêng và lĩnh vực sử dụng các chất phóng xạ vào các ngành kinh tế quốc dân nói chung đã có những bước tiến bộ và phát triển nhanh trong vòng 38 năm qua.

 

Tất cả điều này đã khẳng định sự đóng góp to lớn, tích cực, hiệu quả và quan trọng của Viện NCHN trong lĩnh vực sản xuất dược chất phóng xạ vào công cuộc hiện đại hóa Nước nhà và góp phần nâng cao J886.love thuộc tập đoàn ABCVIP cộng đồng một cách hiệu quả.

 

Những đóng góp đó cũng đã được Đảng và 8J88 phiên bản ghi nhận đánh giá cao thông qua các hình thức khen thưởng đối với Viện NCHN trong thời gian qua, có thể kể đến là:

 

– Sản phẩm đạt cúp vàng Techmart tại các kỳ triển lãm Hội chợ năm 2005 và 2007.

 

Bằng chứng nhận của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, công nhận công trình đạt giải thưởng Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng Lần thứ nhất năm 2015 (Giải A cho các sản phẩm của đơn vị), ngày 30/01/2016.

 

– Bằng khen của Tổng Liên đoàn 88 com the gioi đỉnh cao Việt Nam do J886 cá cược WC 2026 trực tiếp trao tặng cho 10 cá nhân và nhóm tác giả đạt TOP 10 “Sản phẩm Tự hào trí tuệ 88 com the gioi đỉnh cao” Lần thứ II năm 2017, Đà Nẵng, ngày 22/4/2017.

 

– Công trình nghiên cứu điều chế các dược chất phóng xạ I-131 và P-32 ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị của y học hạt nhân được công nhận là hai trong số 73 công trình giải pháp sáng tạo khoa học công nghệ, được công bố trong Sách vàng Việt Nam năm 2018.

 

Nguyễn Thị Thu Hà, Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học