Bài này giới thiệu về liệu pháp xạ trị proton, một kỹ thuật xạ trị thuộc vào loại tiên tiến nhất hiện nay. Bài tổng hợp những khả năng xạ trị của liệu pháp proton, trình bày những nghiên cứu SWOT – các điểm mạnh, điểm yếu, nguy cơ và cơ hội của các chuyên gia Iran về liệu pháp xạ trị proton. Cũng trong bài này, tác giả cũng trình bày những khuyến cáo của các chuyên gia Iran và IAEA liên quan tới những vấn đề cần phải xem xét trước khi đầu tư dự án xạ trị Proton. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra một số thông tin tài chính liên quan tới đầu tư dự án xạ trị proton từ các nước có thu nhập tấp và trung bình (LMIC). Hy vọng các thông tin này góp phần có cái nhìn đa chiều về liệu pháp xạ trị proton.
I. Xạ trị Proton (PRT):
I.1. Liệu pháp proton
Liệu pháp xạ trị proton là liệu pháp xạ trị ngoài sử dụng chùm hạt proton (hạt mang điện tích dương) có năng lượng cao từ 160-230 MeV có tốc độ bằng khoảng 70-80% tốc độ ánh sáng. Chùm hạt proton phát ra nhờ máy gia tốc có thể là cyclotron hoặc synchrotron. Lợi thế của liệu pháp proton là tập trung xạ vào vị trí khối u và tránh được sự ảnh hưởng của tia xạ tới các mô lành xung quanh.
Ngoài ra, việc sử dụng xạ trị proton còn cho phép tăng liều tại khối u mà vẫn ít ảnh hưởng tới các mô xung quanh dẫn tới hạn chế các tác dụng phụ và phát sinh ung thư mới do chiếu xạ gây ra, đồng thời giảm thời gian điều trị, tăng chất lượng cuộc sống.
Xạ trị Proton giảm liều tổng thể cho bệnh nhân
Hiện nay có 2 kỹ thuật xạ trị proton phổ biến là:
Kỹ thuật chiếu xạ bằng tán xạ kép (double- scattering irradiation): sử dụng 2 lá tán xạ để mở rộng chùm tia phát ra từ máy gia tốc sau đó sử dụng các thiết bị tạo thành chùm tia theo chiều dọc và chiều sâu để đưa chùm proton bao trọn lên khối u, không chiếu ra các mô lành xung quanh. Kỹ thuật này được sử dụng chủ yếu cho các khối u lớn, nằm ở vị trí ít gần các cơ quan quan trọng như u gan, phổi.
Kỹ thuật quét chùm điểm (spot scanning irradiation): phương pháp hiện đại hơn sử dụng trực tiếp chùm tia phát ra từ máy gia tốc chiếu lên từng điểm trên khối u, quá trình chiếu xạ được liên kết trực tiếp với dữ liệu hình dạng khối u do đó có thể tăng liều cao khi chiếu vào giữa khối u và hạn chế tối đa việc chiếu vào các mô lành. Kỹ thuật này thường được sử dụng để điều trị bệnh nhân u não, u đầu cổ, ung thư ở trẻ em,…
Tuy nhiên các bệnh nhân ung thư mà cơ thể bị ảnh hưởng toàn bộ như bệnh bạch cầu, bệnh lymphoma ác tính không thể sử dụng liệu pháp proton để điều trị.
I.2 Ưu điểm của phương pháp proton trong điều trị
Trong xạ trị truyền thống sử dụng chùm photon (hạt không mang điện) đến từ tia X khi đi qua khối u có thể gây hại cho các mô và cơ quan khỏe mạnh xung quanh vú gây hỏng mô tim hoặc phổi. Do đó việc sử dụng liệu pháp proton giúp xạ trị chính xác hơn, tập trung các chùm năng lượng trực tiếp vào khối u mà không để nó đi qua các mô bên dưới. Phương pháp proton càng đặc biệt có lợi khi ung thư vú ở bên trái và gần tim. Liệu pháp proton thường được chỉ định cho các dạng ung thư vú sau:
- Ung thư vú giai đoạn 1,2,3;
- Có thụ thể estrogen và progesterone dương tính hoặc âm tính;
- HER2 dương tính hoặc âm tính; ung thư vú có viêm nhiễm; ung thư biểu mô ống tại chỗ; ung thư biểu mô ống xâm lấn;ung thư biểu mô tiểu thuỳ xâm lấn;
Tuy nhiên sử dụng xạ proton cũng vẫn sẽ được cân nhắc trước khi điều trị bao gồm:
- Tuổi tác, sức khoẻ tổng thể; giai đoạn ung thư vú; loại ung thư vú; cấp độ khối u; các phương pháp điều trị ung thư vú trước đó.
Khi nào chúng ta nên xem xét liệu pháp proton?
Liệu pháp proton nên xem xét cho các loại bệnh nhân sau:
- Bệnh nhân trẻ tuổi, đặc biệt là trẻ em, vì nguy cơ mắc bệnh ung thư thứ hai sẽ điều trị liều cao hơn;
- Các khối u kháng tia xạ cần tăng liều, ví dụ: chordoma, chondrosarcoma;
- Các khối u ở những vị trí có nhiều cấu trúc quan trọng gần đó, ví dụ: ung thư đầu cổ, u não;
- Khi liều lượng tăng vọt với xạ trị thông thường sẽ đủ đáng kể để gây ra nhiều tác dụng phụ hơn, ví dụ: chiếu xạ sọ não.
Thông thường nhất, liệu pháp chùm tia proton được sử dụng để điều trị ung thư đầu và cổ, nhưng ngày càng được sử dụng nó để nhắm đích và điều trị ung thư cột sống, vú, sarcoma, não và tuyến tiền liệt.
I.3 Những điều cần lưu ý khi đầu tư liệu pháp xạ trị Proton
Dưới đây là kết quả nghiên cứu SWOT ( điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội) về xạ trị Proton của các chuyên gia IRAN đăng trên [1]

10 cân nhắc chính liên quan đến đầu tư dự án PRT dựa trên quan điểm của các chuyên gia xạ trị Iran (kết quả phân tích SWOT) và các khuyến nghị của IAEA đối với việc thành lập dự án PBT (xạ trị Proton) ở Iran được trình bày dưới đây1:
- Trước khi thành lập cơ sở PBT, phải tuân thủ việc phân phối đồng đều hơn các thiết bị/cơ sở xạ trị tiêu chuẩn (với máy điều trị linac hiện đại) trên toàn quốc để việc lắp đặt máy trị liệu proton trở nên hợp lý hơn.
- Dự án PBT nên được công nhận và chia sẻ với ‘tất cả’ các nhà đầu tư trong nước có liên quan.
- Chúng tôi đề nghị tất cả các nhà đầu tư liên quan và cơ quan quản lý quốc gia có kỹ năng quản lý cần thiết nên tham gia vào bước bắt đầu của dự án PBT.
- Cần có các nhóm chính như bác sĩ xạ trị, nhà vật lý y khoa, quản trị viên y tế có kỹ năng đa ngành và kinh nghiệm đặc biệt.
- Nên thực hiện một nghiên cứu toàn diện trước khi bắt đầu đầu tư một dự án PBT mới (bao gồm dịch tễ học và chỉ định về ung thư, vấn đề tiếp cận, kết nối với bệnh viện ung thư và hiệp hội khoa học và chuyên ngành).
- Bắt buộc phải có chuyên môn trước về xạ trị thông thường (ví dụ Xạ trị điều chỉnh cường độ (IMRT)) trước khi thành lập một trung tâm PBT mới, như một trung tâm xạ trị tiên tiến.
- Chúng tôi đặc biệt khuyến nghị đào tạo tất cả nhân viên trị liệu bằng hạt, bao gồm bác sĩ xạ trị, nhà vật lý y khoa, nhà sinh học bức xạ và y tá xạ trị. Hơn nữa, đào tạo từ xa (e-learning), giao tiếp và học bổng thực tế đều rất cần thiết và phải được hoàn thành thông qua đào tạo nội bộ.
- Khuyến nghị tất cả các nhà cung cấp PBT, bao gồm các công ty, nhà phân phối và đại lý xem xét các khóa đào tạo khác nhau liên quan đến PBT.
- Đối với các nước đang phát triển, máy gia tốc hạt nhỏ gọn (cyclotron và synchrotron) được ưa chuộng hơn do chi phí thấp hơ
- Cuối cùng, trong khi ở các nước thu nhập thấp và trung bình (LMIC), tỷ lệ sử dụng xạ trị sẽ cao hơn, số đợt điều trị trên mỗi máy sẽ cao hơn và tỷ lệ tái điều trị cũng sẽ thấp hơn. Vì vậy, có thể dự đoán số lượng máy xạ trị sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu của người bệnh.
Chi phí đầu tư cho cơ sở PBT ước tính vào khoảng 140 triệu euro cho 1 cơ sở gồm 4-5 phòng); điều này có vẻ không phù hợp với LMIC (các nước có thu nhập thấp và trung bình). Hoặc 40 triệu US $ cho một trung tâm PRT một phòng đơn. Đây là một lựa chọn hợp lý ngay cả đối với các nước có thu nhập cao (HIC). Lợi thế về địa lý, GDP, công nghệ cơ bản và nhu cầu cao về RT của Mexico[2] khiến nước này trở thành một ứng cử viên lý tưởng. Tuy nhiên, một trung tâm PBT như vậy sẽ chiếm khoảng 1/3 chi tiêu y tế hàng năm của Mexico vào năm 2021 (31,700 triệu US $). Cả khu vực tư nhân và các cơ quan Link Mobile Đăng Ký J88 phải thực hiện những nỗ lực rất lớn để cung cấp kinh phí.[3] Ngoài ra, còn cần phải tính đến chi phí bảo hành hàng năm, chi phí vận hành thường xuyên…
Có thể thấy rằng, để có được một dự án xạ trị proton thành công chúng ta còn có nhiều việc phải chuẩn bị, từ cơ sở hạ tầng bao gồm cả cơ chế chính sách, tới nguồn vốn và nhất là chuẩn bị nguồn nhân lực. Ngay cả khi việc đầu tư vào cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng có vẻ được coi là một trở ngại quan trọng nhất, thì việc đào tạo được một đội ngũ chuyên gia y tế và các chuyên gia khác đủ trình độ nhằm cung cấp phương pháp điều trị, chẩn đoán an toàn, bền vững và hiệu quả, bao gồm cả xạ trị, cũng sẽ là một thách thức rất lớn nếu xét đến thời gian dài để có đủ năng lực.
[1] A Comprehensive Survey of Proton Beam Therapy Research and Development in Iran
Frontiers in Biomedical Technologies Vol. 8, No. 1 (2021) 9-19; DOI: https://doi.org/10.18502/fbt.v8i1.5853
[2] Mexico có dân số là 126 triệu người (2021); GDP khoảng 2,4 trillion U.S. dollars (2021); GDP (PPP) trên đầu người: 18,804 U.S. dollars.
[3] Proton Therapy in Lower-Middle-Income Countries: From Facts and Reality to Desire, Challenges and Limitations
https://www.intechopen.com/predownload/75221;
DOI: https://dx.doi.org/10.5772/intechopen.95984.
TS. Đặng Thanh Lương, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành





